Trong đời sống thường nhật từ “giám hộ” còn rất xa lạ có thể các bạn chỉ được nghe qua vô tuyến trên các bộ phim của nước ngoài. Nhưng trong pháp lý tại Việt Nam, cũng có khái niệm về giám hộ, người giám hộ và những trường hợp cần có người giám hộ. Qua bài viết dưới đây chúng tôi muốn truyền đạt cho các bạn đọc chưa nắm rõ, hiểu rõ hơn về thuật ngữ pháp lý này.
1. Thế nào là giám hộ?
Tại Điều 46 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:
“Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định để thực hiện việc chăm sóc, bảo vê quyền, lợi ích pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”.
Nói cách khác, giám hộ là một hoặc nhiều người (người giám hộ) “chăm sóc” hoặc “thay mặt hợp pháp” để xử lý các vấn đề pháp lý, hành chính, tài sản… cho một hay nhiều người không thể tự mình thực hiên được (người được giám hộ).
2. Những trường hợp cần có người giám hộ
Tại Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1. Người được giám hộ bao gồm:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu
người giám hộ;
c) Người mất năng lực hành vi dân sự;
d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2. Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ
cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.”
Lưu ý: Một người chỉ có thể được một người giám hộ. Tuy nhiên, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.
3. Người giám hộ là gì? Điều kiện là người giám hộ.
Tại Điều 48 Bộ luật Dân sự năm 2025 quy định về người giám hộ như sau:
“Điều 48. Người giám hộ
1. Cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện quy định tại Bộ luật này được làm người giám hộ.
2. Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
3. Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.” Nói cách khác “Người giám hộ” là một hoặc nhiều người thực hiện chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một hay nhiều người khác (Người được giám hộ).
*Nếu cá nhân là người giám hộ phải có đủ các điều kiện sau:
– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
– Có tư cách đạo đức tốt và điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
– Không bị truy nã hoặc bị kết án về các tội xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản người khác.
– Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Các điều kiện trên được quy định bởi Điều 49 Bộ luật Dân sự năm 2015
*Nếu pháp nhân là người giám hộ phải đáp ứng đủ điều kiện sau:
– Có năng lực pháp luật dân sự phug hợp với việc giám hộ.
– Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Các điều kiện trên được quy định Điều 50 Bộ luật Dân sự năm 2015
4. Giám hộ đương nhiên và cử, chỉ định người giám hộ
Giám hộ được phân thành 2 trường hợp:
*Giám hộ đương nhiên
– Người giám đương nhiên là người giám hộ không cần quyết định của cơ
quan nào.
– Cha, mẹ là giám hộ đương nhiên của con chưa thành niên.
– Ông bà nội hoặc ông bà ngoài là giám hộ đương nhiên nếu cha mẹ đều không đủ điều kiện là người giám hô theo pháp luật quy định.
– Anh chị là giám hộ nếu không có ông bà.
*Cử, chỉ định người giám hộ
Nếu không có người giám hộ đương nhiên được quy định bởi Điều 54 Bộ
luật Dân sự năm 2015 như sau:
“Điều 54. Cử, chỉ định người giám hộ
1. Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
2. Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.
3. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.
4. Trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này.
Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.”
Lưu ý: Khi cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.
5. Nghĩa vụ của người giám hộ
Đối với người chưa đủ 15 tuổi tại Điều 55 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 55. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi
1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.
2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
3. Quản lý tài sản của người được giám hộ.
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Đối với từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tại Điều 56 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 56. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
1. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi:
– Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh.
– Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự.
– Quản lý tài sản của người được giám hộ.
– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Lưu ý: đối với quyền của người dám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có một hoặc nhiều nghĩa vụ trong các nghĩa vụ nêu trên theo quyết định của Tòa án.
6. Quyền của người giám hộ
Người giám hộ của người chưa đủ tuổi thành niên dưới 18 tuổi hoặc người bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền tại Điều 58 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 58. Quyền của người giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:
a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.”
Lưu ý: Đối với Người giám hộ của người gặp khó khăn trong việc làm chủ hành vi, nhận thức có một hoặc nhiều quyền trong số các quyền nêu trên theo quyết định của Tòa án.
Trên đây là nội dung của Luật Minh Vương gửi đến bạn đọc. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích về thuật ngữ pháp lý “Giám hộ” và “những trường hợp cần có người giám hộ”.